TRẢ LỜI BẠN ĐỌC

Sở hữu chung của vợ chồng

Cập nhật ngày: 23/02/2012 08:10:16

Tôi là người Việt định cư ở nước ngoài và vợ con tôi hiện sống tại Việt Nam, hàng tháng tôi đều gửi tiền về cho vợ trang trải cuộc sống gia đình, mua sắm đồ dùng và xây sửa nhà. Vậy, những tài sản (TS) hiện do vợ tôi đứng tên thì tôi có quyền sở hữu hay không?

NGUYỄN VĂN TÀI (Phường Phú Cường, TX.TDM)

Luật Hôn nhân và Gia đình quy định TS chung của vợ chồng gồm TS do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất - kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; TS mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những TS khác mà vợ chồng thỏa thuận là TS chung.

Bên cạnh đó Bộ luật Dân sự ở Điều 219 cũng quy định: Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt TS chung. Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt TS chung. TS chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của tòa án.

Với quy định nêu trên, dù những TS hiện vợ ông đứng tên sở hữu, nhưng những tài sản đó do ông gửi tiền về trong thời kỳ hôn nhân là TS chung của vợ chồng ông. Ông và vợ ông có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt với khối TS chung đó.

Cưỡng chế trả nhà, giao nhà

Gia đình tôi cho người quen mượn nhà để ở, khi tôi lấy lại họ không chịu trả nên phải kiện và tòa án xử buộc họ phải trả nhà cho gia đình tôi. Cơ quan thi hành án (THA) đã có quyết định cưỡng chế, nhưng họ cố tình tránh mặt. Vậy có thực hiện được việc cưỡng chế án để lấy lại nhà trả cho gia đình tôi không?

              VÕ BÌNH MINH (TX.Dĩ An)

Trường hợp người phải THA có nghĩa vụ trả nhà thì chấp hành viên (CHV) buộc người phải THA và những người khác có mặt trong nhà ra khỏi nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển tài sản ra khỏi nhà; nếu họ không tự nguyện thực hiện thì CHV yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà.

Nếu họ từ chối nhận tài sản, CHV phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản và giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan THA dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản đến nhận lại tài sản.

Hết thời hạn 3 tháng, kể từ ngày thông báo mà người có tài sản bảo quản không đến nhận thì tài sản đó được xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều 126 Luật THA dân sự, trừ trường hợp có lý do chính đáng.

Trường hợp người phải THA cố tình vắng mặt; mặc dù đã được thông báo quyết định cưỡng chế thì CHV vẫn thực hiện được việc cưỡng chế như quy định nêu trên.

(Điều 115 Luật THA dân sự)                                         

Tội xâm phạm chỗ ở của công dân

Tôi thuê phòng trọ và có hai anh dân quân tự ý vào khám xét phòng trọ của tôi nhưng không có lệnh khám xét. Pháp luật quy định thế nào về tội khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác?

VÕ THỊ BÍCH THU (TT.Mỹ Phước, huyện Bến Cát)

Xâm phạm chỗ ở của công dân là xâm phạm vào quyền bất khả xâm phạm chỗ ở của công dân. Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, nơi sinh sống của công dân là một quyền rất cần thiết cho tự do cá nhân của công dân. Hiến pháp nước ta có quy định: Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

Nhằm bảo đảm quyền này một cách triệt để, khoản 1 Điều 124 BLHS quy định: Người nào khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác, đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.

              XUÂN LẠC (Hội Luật gia Bình Dương)