TRẢ LỜI BẠN ĐỌC

Tư vấn pháp luật

Cập nhật ngày: 20/02/2012 09:57:56

1. Ông Trần Văn T. (TT.Uyên Hưng, huyện Tân Uyên) hỏi: Bà N. có một mảnh đất thổ cư diện tích 100m2 và đã thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất này cho tôi với giá 300 triệu đồng. Tôi đã đặt cọc cho bà N. số tiền là 20 triệu đồng (việc đặt cọc này được lập thành văn bản). Sau khi nhận tiền đặt cọc của tôi, bà N. thay đổi ý định không chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất này nữa và trả lại cho tôi số tiền đặt cọc 20 triệu đồng. Tôi không đồng ý, tôi yêu cầu ngoài số tiền đặt cọc, bà N. phải trả cho tôi một số tiền tương đương với số tiền đã đặt cọc là 20 triệu đồng nữa. Yêu cầu của tôi đúng hay sai?

- Trả lời: Bộ luật Dân sự quy định, một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là đặt cọc. Theo khoản 1 Điều 358 Bộ luật Dân sự năm 2005, đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự và việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.

Theo khoản 1 Điều 358 Bộ luật Dân sự năm 2005, trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Để bảo đảm thực hiện việc xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất - một loại hợp đồng dân sự, bà N. và ông đã thỏa thuận số tiền đặt cọc là 20 triệu đồng. Ngoài thỏa thuận này bà N. và ông không có thỏa thuận nào khác. Việc bà N. thay đổi nghĩa vụ đã cam kết (không chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông), sẽ dẫn đến việc ông có quyền yêu cầu bà N. ngoài việc phải trả lại số tiền đặt cọc là 20 triệu đồng, còn phải chịu phạt thêm 20 triệu đồng nữa. Như vậy, yêu cầu của ông trong trường hợp này là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

2. Bà Phạm Thị D. (TT.Mỹ Phước, huyện Bến Cát): Vợ chồng tôi cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà. Nếu chỉ một trong hai người muốn thế chấp, hoặc bán căn nhà nói trên thì có được không?

- Trả lời: Theo Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005, sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, trong đó vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

Trong trường hợp nêu trên, do hai vợ chồng bà cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà nên theo khoản 1 Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005, căn nhà nói trên là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng bà. Do vậy, theo khoản 2, khoản 3 Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 28 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì vợ chồng bà chỉ được thế chấp, bán căn nhà khi có sự đồng ý của cả hai người. Nếu chỉ cá nhân bà hoặc chồng của bà muốn thế chấp hay bán căn nhà nói trên thì phải có giấy ủy quyền của người còn lại. Nói cách khác là nếu không có sự đồng ý của bên này thì bên kia không thể thực hiện việc thế chấp hoặc bán căn nhà thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng.

SỞ TƯ PHÁP TỈNH BÌNH DƯƠNG