Hiện
nay tình trạng thanh niên chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà đánh nhau gây thương tích.
Xin cho biết tội cố ý gây thương tích, pháp luật quy định mức phạt như thế nào
và tỷ lệ thương tật bao nhiêu % mới phạm vào tội này?
LÊ
CÔNG PHÚC (Xã Thới Hòa, huyện Bến Cát)
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác được hiểu là hành vi cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên
hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp do BLHS quy định.
Tại Điều 104 BLHS tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định như sau:
1. Người nào cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11 - 30%
hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo
không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm: dùng hung khí nguy
hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; gây cố tật nhẹ cho nạn
nhân; phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; đối
với trẻ em, phụ nữ đang mang thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không
có khả năng tự vệ; đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô
giáo của mình; có tổ chức; trong thời gian đang bị giam giữ, tạm giam hoặc đang
bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; thuê gây thương tích hoặc gây
thương tích thuê; có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm; để cản trở người
thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31 - 60% hoặc từ 11
- 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định ở khoản 1 nêu trên, thì bị
phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.
3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến
chết người hoặc từ 31 - 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định ở
khoản 1 nêu trên, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm.
4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người
hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ 10 năm đến
20 năm hoặc tù chung thân.
Tội
gây rối trật tự công cộng
Tôi
có người cháu, thường xuyên uống rượu và khi có rượu hay đập phá và gây mất
trật tự khu phố, đã bị xử phạt hành chính. Mới đây tòa án có quyết định xử phạt
nó về tội gây rối trật tự công cộng. Xin cho biết về tội này.
LÊ
THỊ THU (P.Chánh Nghĩa, TX.TDM)
Tội gây rối trật tự công cộng xâm
hại đến trật tự chung, vi phạm nguyên tắc, nếp sống văn minh cũng như cản trở
hoạt động bình thường của những người khác ở nơi công cộng.
Người nào gây rối trật tự công cộng
gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã
bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ
1 - 10 triệu đồng, cải tạo không giam
giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường
hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 - 7 năm: có dùng vũ khí hoặc có hành vi phá
phách; có tổ chức; gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt
động công cộng; xúi giục người khác gây rối; hành hung người can thiệp bảo vệ
trật tự công cộng; tái phạm nguy hiểm.
(Điều
245 BLHS).
Tội
xâm phạm chỗ ở của công dân
Tôi
thuê phòng trọ và có hai anh dân quân tự ý vào khám xét phòng trọ của tôi nhưng
không có lệnh khám. Pháp luật quy định thế nào về tội khám xét trái pháp luật
chỗ ở của người khác?
Võ
thị Bích Thu (TT.Mỹ Phước, huyện Bến Cát)
Xâm phạm chỗ ở của công dân là xâm
phạm vào quyền bất khả xâm phạm chỗ ở của công dân. Quyền bất khả xâm phạm về
chỗ ở, nơi sinh sống của công dân là một quyền rất cần thiết cho tự do cá nhân
của công dân. Hiến pháp nước ta có quy định: Công dân có quyền bất khả xâm phạm
về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng
ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.
Nhằm bảo đảm quyền này một cách
triệt để, khoản 1 Điều 124 BLHS quy định: Người nào khám xét trái pháp luật chỗ
ở của người khác, đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có
những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của
công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù
từ ba tháng đến một năm.
Tội
vi phạm chế độ một vợ, một chồng
Chúng
tôi chung sống với nhau như vợ chồng được 3 năm nhưng không đăng ký kết hôn.
Nay nghe tin anh ấy về quê cưới vợ khác, như vậy anh ấy có vi phạm pháp luật
hay không? Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng quy định như thế nào?
Nguyễn
Thị Lan (P. Phú Lợi, TX.TDM)
Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà
chung sống với nhau như vợ chồng, thì không được pháp luật công nhận là vợ
chồng.
Người nào đang có vợ, có chồng mà
kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa
có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là
đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về
hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến
một năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.
Với quy định nêu trên thì người đang
chung sống với chị không vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình, vì giữa hai người
không đăng ký kết hôn thì không được luật công nhận là vợ chồng.
(Điều
14 Luật HN-GĐ; khoản 1 Điều 147 BLHS)
XUÂN
LẠC (Hội Luật gia Bình Dương)