Thế nào là tội chứa chấp việc sử
dụng trái phép chất ma túy và pháp luật quy định hình phạt đối với tội này như
thế nào?
Nguyễn Tuấn (Phường Lái Thiêu,
TX.Thuận An)
Tội
chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 198 Bộ luật
Hình sự. Tội này xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe, nòi giống, phẩm
giá con người.
Hành
vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi biết người khác mượn
hoặc thuê địa điểm thuộc quyền chiếm hữu, quản lý của mình để sử dụng trái phép
chất ma túy nhưng vẫn cho mượn hoặc cho thuê, hoặc có hành vi khác như cho thuê
mượn xe, tàu, thuyền... để người khác sử dụng trái phép chất ma túy.
Hình
phạt đối với tội này được quy định:
-
Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp
việc sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.
-
Phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:
lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội nhiều lần; đối với trẻ em; đối với nhiều
người; tái phạm nguy hiểm.
-
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng,
tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Thẩm quyền ra lệnh bắt bị can tạm
giam và thời gian tạm giam
Công an đến nhà đọc lệnh bắt anh tôi
tạm giam 4 tháng để điều tra. Xin cho hỏi: ai có thẩm quyền ra lệnh bắt người
để tạm giam và thời gian tạm giam là bao lâu? Anh tôi bị tạm giam 4 tháng để
điều tra như vậy tội có nặng không?
Nguyễn Thị Duyên (Dầu Tiếng)
Người
có quyền ra lệnh bắt bị can tạm giam là:
-
Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự
các cấp;
-
Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;
-
Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân
tối cao; Hội đồng xét xử;
-
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh
bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
Thời
gian tạm giam bị can để điều tra không quá 2 tháng đối với tội phạm ít nghiêm
trọng, không quá 3 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 4 tháng đối
với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Trong
trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn
cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam
thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết hạn tạm giam, cơ quan điều tra phải có
văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.
Việc
gia hạn tạm giam được quy định như sau:
-
Tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 1 lần không quá 1 tháng;
-
Tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 2 lần, lần thứ 1 không quá 2
tháng và lần thứ 2 không quá 1 tháng;
-
Tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 2 lần, lần thứ 1 không
quá 3 tháng, lần thứ 2 không quá 2 tháng;
-
Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 3 lần, mỗi lần
không quá 4 tháng.
Trường
hợp anh của chị bị tạm giam 4 tháng để điều tra thuộc vào tội phạm nghiêm trọng
hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
(Điều 80 và
Điều 120 Bộ luật Tố tụng hình sự).
Bị cáo bắt buộc phải có mặt tại
phiên tòa
Bị cáo có bắt buộc phải có mặt tại
phiên tòa hay không? Pháp luật quy định như thế nào trong trường hợp bị cáo
vắng mặt tại phiên tòa? Thế nào là bị can và thế nào là bị cáo?
Nguyễn Văn Tấn (Phường Bình Chuẩn,
TX.Thuận An)
Bị
can là người đã bị khởi tố về hình sự bằng quyết định khởi tố bị can của cơ
quan có thẩm quyền. Còn bị cáo là người đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử.
Bị
cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của tòa án; nếu vắng mặt
không có lý do chính đáng thì bị áp giải theo thủ tục và quy định của pháp
luật; nếu bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa.
Nếu
bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác thì Hội đồng xét xử tạm
đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo khỏi bệnh.
Nếu
bị cáo trốn tránh thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu cơ quan
điều tra truy nã bị cáo.
Tòa
án chỉ có thể xử vắng mặt bị cáo khi bị cáo trốn tránh và việc truy nã không
kết quả; bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa; nếu sự
vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và họ đã được giao giấy
triệu tập hợp lệ.
(Điều 49, khoản
1 Điều 50, khoản 1 và 2 Điều 187 Bộ luật Tố tụng hình sự).
Tội gây ô nhiễm không khí
Gần nhà tôi có một xí nghiệp gỗ, bụi
cưa làm ô nhiễm môi trường không khí. Vậy làm ô nhiễm môi trường có bị tội hình
sự không? Nếu có thì bị xử phạt như thế nào?
Nguyễn Thị Bé
Ba (TX.Thuận
An)
Tội
gây ô nhiễm không khí được quy định tại Điều 182 BLHS, tội này quy định như
sau:
Người
nào thải vào không khí các loại khói, bụi, chất độc hoặc các yếu tố độc hại
khác; phát bức xạ, phóng xạ quá tiêu chuẩn cho phép, đã bị xử phạt hành chính
mà cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục theo quyết định của cơ quan
có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến
100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3
năm.
Phạm
tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.
Phạm
tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm.
Người
phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm đảm
nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm.
XUÂN LẠC (Hội Luật gia Bình
Dương)