TRẢ LỜI BẠN ĐỌC

Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung

Cập nhật ngày: 09/02/2012 08:52:15

Vợ chồng tôi muốn lập một văn bản thỏa thuận chia tài sản, vì tôi sắp mở công ty. Vậy văn bản này được cơ quan nào chứng và văn bản có hiệu lực khi nào?

LÊ NHẬT MINH (Phường Lái Thiêu, TX.Thuận An)

Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thỏa thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc theo quy định pháp luật. Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được việc chia tài sản chung, thì cả hai bên hoặc một bên có quyền yêu cầu tòa án giải quyết.

Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ, chồng không xác định rõ thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản, thì hiệu lực được tính từ ngày, tháng, năm lập văn bản.

Trường hợp văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng, thì hiệu lực được tính từ ngày xác định trong văn bản thỏa thuận; nếu văn bản không xác định ngày có hiệu lực đó, thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.

Trong trường hợp văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.

Tài sản chung được tòa án chia theo yêu cầu của vợ, chồng thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực kể từ ngày quyết định cho chia tài sản chung của tòa án có hiệu lực pháp luật.

(Điều 6 và 7 NĐ số 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ)

Tội quảng cáo gian dối

Người bán hàng đã quảng cáo (QC) không trung thực về sản phẩm họ đang bán và đã một lần bị xử phạt hành chính, nhưng nay họ vẫn tiếp tục quảng cáo sai về sản phẩm. Trường hợp này pháp luật xử lý như thế nào?

BÙI NGỌC SƯƠNG (TX.Dĩ An)

QC gian dối là hành vi đưa vào nội dung quảng cáo những thông tin mà người phạm tội biết rằng không đúng sự thật về công dụng, chất lượng, tiêu chuẩn hàng hóa, dịch vụ... nhằm thu hút khách hàng, để tiêu thụ sản phẩm.

Tội QC gian dối xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước ta trong lĩnh vực QC. Đồng thời tội phạm cũng gây thiệt hại cho lợi ích của khách hàng sử dụng hàng hóa dịch vụ được QC gian dối.

Điều 168 BLHS đã quy định về tội QC gian dối như sau: Người nào QC gian dối về hàng hóa, dịch vụ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

Hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng

Vợ chồng tôi vẫn đang sống chung, nhưng tôi muốn chia tài sản. Vậy khi chúng tôi muốn chia tài sản chung của vợ chồng thì hậu quả về sau như thế nào?

           LÊ THỊ DUNG (Bến Cát)

Theo Điều 30 Luật HN&GĐ và Điều 8 NĐ số 70/2001/NĐ-CP thì trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ, chồng.

Còn thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất - kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận khác.

Các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản

Phía trước nhà tôi có một căn nhà và theo thỏa thuận: chủ nhà này đã dành cho gia đình tôi một lối đi ra đến đường công cộng và tôi đã phải trả cho hộ này một số tiền. Nay chủ hộ bán nhà của mình cho người khác, nhưng chủ mới không đồng ý cho gia đình tôi tiếp tục sử dụng lối đi đó nữa. Theo quy định của pháp luật thì việc làm của người mới mua nhà đúng hay sai?

              ĐOÀN VĂN TÀI (TX.TDM)

Tại Điều 173 BLDS thì người không phải là chủ sở hữu chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật. Các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản bao gồm: quyền sử dụng đất; quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề; các quyền khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Việc chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu tài sản cho người khác không phải là căn cứ để chấm dứt các quyền trên của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản.

Với quy định nêu trên, việc chủ nhà bán nhà cho người khác không làm chấm dứt quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề của gia đình ông. Việc làm của người mua nhà trái với quy định của pháp luật hiện hành.

XUÂN LẠC (Hội Luật gia Bình Dương)