Vợ chồng tôi muốn lập một văn bản thỏa thuận chia tài sản,
vì tôi sắp mở công ty. Vậy văn bản này được cơ quan nào chứng và văn bản có hiệu
lực khi nào?
LÊ NHẬT MINH (Phường
Lái Thiêu, TX.Thuận An)
Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ
chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và
chồng; văn bản thỏa thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng
thực theo yêu cầu
của vợ, chồng hoặc theo quy định pháp luật. Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận
được việc chia tài sản chung, thì cả hai bên hoặc một bên có quyền yêu cầu tòa
án giải quyết.
Văn bản thỏa thuận
chia tài sản chung của vợ, chồng không xác định rõ thời điểm có hiệu lực của việc
chia tài sản, thì hiệu lực được tính từ ngày, tháng, năm lập văn bản.
Trường hợp văn bản thỏa thuận chia tài sản
chung của vợ chồng được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng,
thì hiệu lực được tính từ ngày xác định trong văn bản thỏa thuận; nếu văn bản
không xác định ngày có hiệu
lực đó, thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.
Trong trường hợp văn
bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải công chứng, chứng thực theo
quy định của pháp luật, thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng,
chứng thực.
Tài sản chung được
tòa án chia theo yêu cầu của vợ, chồng thì việc chia tài sản chung của vợ chồng
có hiệu lực kể từ ngày quyết định cho chia tài sản chung của tòa án có hiệu lực
pháp luật.
(Điều 6 và 7 NĐ số 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ)
Tội quảng cáo gian dối
Người bán hàng đã quảng
cáo (QC) không trung thực về sản phẩm họ đang bán và đã một lần bị xử phạt hành
chính, nhưng nay họ vẫn tiếp tục quảng cáo sai về sản phẩm. Trường hợp này pháp
luật xử lý như thế nào?
BÙI NGỌC SƯƠNG (TX.Dĩ
An)
QC gian dối là hành
vi đưa vào nội dung quảng cáo những thông tin mà người phạm tội biết rằng không
đúng sự thật về công dụng, chất lượng, tiêu chuẩn hàng hóa, dịch vụ... nhằm thu
hút khách hàng, để tiêu thụ sản phẩm.
Tội QC gian dối xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước ta trong lĩnh vực QC. Đồng thời tội
phạm cũng gây thiệt hại cho lợi ích của khách hàng sử dụng hàng hóa dịch vụ được
QC gian dối.
Điều 168 BLHS đã quy định về tội QC gian dối
như sau: Người nào QC gian dối về hàng hóa, dịch vụ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc
đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được
xóa án tích mà còn
vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không
giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.
Hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng
Vợ chồng tôi vẫn đang
sống chung, nhưng tôi muốn chia tài sản. Vậy khi chúng tôi muốn chia tài sản
chung của vợ chồng thì hậu quả về sau như thế nào?
LÊ THỊ
DUNG
(Bến Cát)
Theo Điều 30 Luật HN&GĐ và Điều 8 NĐ số
70/2001/NĐ-CP thì trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi,
lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ
trường hợp vợ chồng có thỏa
thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.
Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung
của vợ, chồng.
Còn thu nhập do lao động,
hoạt động sản xuất - kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau
khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ, chồng
có thỏa thuận khác.
Các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài
sản
Phía trước nhà tôi có một căn nhà và theo thỏa
thuận: chủ nhà này đã dành cho gia đình tôi một lối đi ra đến đường công cộng
và tôi đã phải trả cho hộ này một số tiền. Nay chủ hộ bán nhà của mình cho người
khác, nhưng chủ
mới không đồng ý cho gia đình tôi tiếp tục sử dụng lối đi đó nữa. Theo quy định
của pháp luật thì việc làm của người mới mua nhà đúng hay sai?
ĐOÀN VĂN TÀI (TX.TDM)
Tại Điều 173 BLDS thì người không phải là chủ
sở hữu chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở
hữu của mình theo thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của
pháp luật. Các quyền
của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản bao gồm: quyền sử dụng đất;
quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề; các quyền khác theo thỏa thuận hoặc
theo quy định của pháp luật.
Việc chủ sở hữu chuyển
quyền sở hữu tài sản cho người khác không phải là căn cứ để chấm dứt các quyền
trên của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản.
Với quy định nêu
trên, việc chủ nhà bán nhà cho người khác không làm chấm dứt quyền sử dụng hạn
chế bất động sản liền kề của gia đình ông. Việc làm của người mua nhà trái với
quy định của pháp luật hiện hành.
XUÂN LẠC (Hội
Luật gia Bình Dương)