TRẢ LỜI BẠN ĐỌC

Đề nghị UBND huyện xác nhận đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Cập nhật ngày: 08/02/2012 09:04:23

Tôi được cấp sổ đỏ với diện tích 300m2; sau đó bán cho một người quen 100m2 đất. Sau khi làm giấy tờ mua bán, tôi đã giao sổ đỏ để họ làm thủ tục trước bạ và tách sổ. Khi tiến hành đo đất để giao đất cho người mua thì phát hiện diện tích đất thực tế bị thiếu so với diện tích được cấp, do hộ liền kề lấn chiếm đất. Tôi muốn mượn lại sổ đỏ để thưa hộ lấn chiếm đất nhưng người mua đất không đồng ý, vì sợ bị lừa. Vậy, không có sổ đỏ tôi có thể thưa ra tòa án được không?

Nguyễn Thu Thanh (Huyện Tân Uyên)

Quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai thì tranh chấp về quyền sử dụng đất (QSDĐ) mà đương sự có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc có một trong các giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do tòa án giải quyết.

Diện tích đất của bạn đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, nhưng nay giấy chứng nhận QSDĐ đó đang bị người chuyển nhượng đất chiếm giữ. Do vậy, không thể xuất trình theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, bạn vẫn có thể khởi kiện vụ việc tại tòa án nếu có tranh chấp xảy ra. Trong trường hợp này bạn phải xin xác nhận của UBND cấp huyện về việc đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, việc sử dụng đất của gia đình của bạn là hợp pháp. Nhưng trước khi được tòa án thụ lý giải quyết, vụ việc tranh chấp giữa bạn với hộ liền kề phải được hòa giải tại trụ sở UBND xã nơi bạn cư trú. Nếu hai bên nhất trí thì biên bản hòa giải có giá trị pháp lý đối với hai gia đình, nếu hòa giải không thành thì sau đó bạn mới có quyền khởi kiện ra tòa án.

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

Tòa án nhân dân cấp huyện, thị có quyền giải quyết tranh chấp thương mại hay không?

                 Trần Tuấn Anh (huyện Phú Giáo)

Theo Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự thì TAND cấp huyện có thẩm quyền sơ thẩm một số tranh chấp về kinh doanh, thương mại, cụ thể là các tranh chấp phát sinh từ quan hệ: mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn kỹ thuật; vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa.

Trường hợp chưa được thôi quốc tịch Việt Nam

Trong trường hợp nào người xin thôi quốc tịch Việt Nam, nhưng chưa được giải quyết thôi quốc tịch Việt Nam?

Người xin thôi quốc tịch Việt Nam chưa được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu thuộc một trong những trường hợp: đang nợ thuế đối với Nhà nước hoặc đang có nghĩa vụ tài sản đối với cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân ở Việt Nam; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định của Tòa án Việt Nam; đang bị tạm giam để chờ thi hành án; đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng.

Người xin thôi quốc tịch Việt Nam không được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.

Cán bộ, công chức và những người đang phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam không được thôi quốc tịch Việt Nam.

(Điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam)

 Xuân Lạc (Hội Luật gia Bình Dương)