Tôi
được cấp sổ đỏ với diện tích 300m2; sau đó bán cho một người quen 100m2 đất.
Sau khi làm giấy tờ mua bán, tôi đã giao sổ đỏ để họ làm thủ tục trước bạ và
tách sổ. Khi tiến hành đo đất để giao đất cho người mua thì phát hiện diện tích
đất thực tế bị thiếu so với diện tích được cấp, do hộ liền kề lấn chiếm đất.
Tôi muốn mượn lại sổ đỏ để thưa hộ lấn chiếm đất nhưng người mua đất không đồng
ý, vì sợ bị lừa. Vậy, không có sổ đỏ tôi có thể thưa ra tòa án được không?
Nguyễn
Thu Thanh (Huyện Tân Uyên)
Quy
định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai thì tranh chấp về quyền sử dụng đất
(QSDĐ) mà đương sự có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc có một trong các giấy tờ quy
định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền
với đất thì do tòa án giải quyết.
Diện
tích đất của bạn đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, nhưng nay giấy chứng nhận
QSDĐ đó đang bị người chuyển nhượng đất chiếm giữ. Do vậy, không thể xuất trình
theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, bạn vẫn có thể khởi
kiện vụ việc tại tòa án nếu có tranh chấp xảy ra. Trong trường hợp này bạn phải
xin xác nhận của UBND cấp huyện về việc đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, việc
sử dụng đất của gia đình của bạn là hợp pháp. Nhưng trước khi được tòa án thụ
lý giải quyết, vụ việc tranh chấp giữa bạn với hộ liền kề phải được hòa giải
tại trụ sở UBND xã nơi bạn cư trú. Nếu hai bên nhất trí thì biên bản hòa giải
có giá trị pháp lý đối với hai gia đình, nếu hòa giải không thành thì sau đó
bạn mới có quyền khởi kiện ra tòa án.
Thẩm
quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
Tòa
án nhân dân cấp huyện, thị có quyền giải quyết tranh chấp thương mại hay không?
Trần Tuấn Anh (huyện Phú Giáo)
Theo
Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự thì TAND cấp huyện có thẩm quyền sơ thẩm một số
tranh chấp về kinh doanh, thương mại, cụ thể là các tranh chấp phát sinh từ
quan hệ: mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; ký
gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn kỹ thuật; vận chuyển hàng hóa
bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa.
Trường
hợp chưa được thôi quốc tịch Việt Nam
Trong
trường hợp nào người xin thôi quốc tịch Việt Nam, nhưng chưa được giải quyết
thôi quốc tịch Việt Nam?
Người
xin thôi quốc tịch Việt Nam chưa được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu thuộc một
trong những trường hợp: đang nợ thuế đối với Nhà nước hoặc đang có nghĩa vụ tài
sản đối với cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân ở Việt Nam; đang bị truy cứu trách
nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định của Tòa án Việt Nam; đang bị tạm
giam để chờ thi hành án; đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng.
Người
xin thôi quốc tịch Việt Nam không được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm
phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.
Cán
bộ, công chức và những người đang phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân
Việt Nam không được thôi quốc tịch Việt Nam.
(Điều
27 Luật Quốc tịch Việt Nam)
Xuân Lạc (Hội Luật gia Bình Dương)