Bộ
tiểu thuyết kinh điển, rồi sau này là bộ phim Tây Du Ký hết sức nổi tiếng của
Trung Quốc từng khiến bao người Việt say mê hồi hộp dõi theo bước chân thỉnh
kinh của thầy trò Đường Tăng. Song ít ai biết rằng: Ở Việt Nam cũng từng có một
“tiểu Đường Tăng” đã vân du qua Tây Tạng, được quốc vương Nêpan đặt pháp danh, được
vinh dự thỉnh Xá lợi Phật về cho quê hương Việt Nam. Người đó là vị thiền sư
Minh Tịnh, còn gọi là hòa thượng Nhẫn Tế, trụ trì đời thứ nhất của chùa Tây Tạng
(Bình Dương).
Chuyến
hành trình qua đất Phật đó được hòa thượng Nhẫn Tế ghi chép lại trong một cuốn
sổ, có tên là “Nhật ký tham bái Ấn Độ, Tây Tạng”. Gần đây, cuốn nhật ký đã được
các môn đồ của ông in thành sách với tựa đề “Sự tích Tây du Phật quốc”.
Chân
dung “tiểu Đường Tăng”
Thiền
sư Minh Tịnh tên thật là Nguyễn Tấn Tạo (tên khác là ông Mười Tạo). Ông sinh năm
1888 tại thôn An Thạnh, Thủ Dầu Một. Vốn là một trí thức và là công chức ngành
y tế thời Pháp, ông rất am hiểu về văn hóa Đông và Tây học. Năm 16 tuổi, ông
nghiên cứu về Phật giáo. Sau đó xuất gia với hòa thượng Ấn Thành - Từ Thiện và
lấy pháp danh là Chơn Phổ - Nhẫn Tế thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 40.  |
Cổng
chùa Tây Tạng |
Theo
cuốn Lịch sử Bình Dương, thiền sư Minh Tịnh là người yêu nước và có nhiều cống
hiến cho cách mạng. Vào năm 1945, ông được cử làm Chủ tịch Hội Phật giáo Cứu quốc
tỉnh Thủ Dầu Một. Tháng 6-1946, ông trở thành thành viên Mặt trận Việt Minh tỉnh
Thủ Dầu Một tại khu Thuận An Hòa.
Hòa thượng Minh Tịnh còn là người có công
trong phong trào chống Pháp trong giới Phật giáo. Ông còn là cha đỡ đầu của đồng
chí Nguyễn Văn Thi, Liên Trung đoàn trưởng, bản doanh đóng tại xã Bình Chuẩn,
Lái Thiêu, Bình Dương. Năm 1950, ông được cử làm cố vấn cho tỉnh Thủ Dầu Một.
Hòa thượng Minh Tịnh từng kêu gọi giới Phật giáo dồn hết sức mình tham gia vào
kháng chiến. Ông nói: “Khi nào còn chiến tranh thì một viên ngói, một viên gạch
cũng không được xây chùa...”. Ngoài ra, ông còn động viên tăng sĩ, phật tử của
chùa trực tiếp tham gia kháng chiến như: Nguyễn Văn Lạc, pháp danh Pháp Cự, hy
sinh năm 1949; Nguyễn Văn Xinh pháp danh Thiện Hiệu, hy sinh năm 1948; Lâm Văn
Thảo, pháp danh Thiện Đắc, hy sinh năm 1945...
Câu
chuyện hành trình qua đất Phật
“Nhật ký tham bái Ấn Độ, Tây Tạng” là cuốn
sách hiếm hoi ở Việt Nam ghi lại một chuyện hiếm hoi và thú vị về một chuyến đi
với những câu chuyện ly kỳ ghi lại hành trình đi qua đất Phật Tây Tạng của thiền
sư Minh Tịnh.  |
Bìa
cuốn Sự tích Tây du Phật quốc,
tên cũ là “Nhật ký tham bái Tây Tạng” của thiền
sư Minh Tịnh |
Tôi
tìm đến chùa Tây Tạng và được Hòa thượng Thích Chơn Hạnh, trụ trì của chùa Tây
Tạng đưa cho một cuốn “Sự tích Tây du Phật quốc” (tên gốc là “Nhật ký tham bái Ấn
Độ, Tây Tạng”). Cuốn sách ghi lại hành trình dài hơn 2 năm (từ năm 1935-1937)
qua đất Phật. Trong thời kỳ đó, ở nước ta, phong trào chấn hưng Phật giáo đang
dấy lên mạnh mẽ. Bối cảnh đó đã thôi thúc thiền sư Minh Tịnh ra đi tìm đến xứ
Phật. Ông cho rằng: Muốn chấn hưng Phật giáo phải biết cội nguồn của Phật pháp.
Với ý nghĩ đó, 17 giờ ngày 17-4-1935, thiền sư xuống Sài Gòn, đến Bến Nhà Rồng,
lên tàu qua xứ Phật. Trong hơn 400 trang nhật ký, thiền sư Minh Tịnh đã ghi lại
khá đầy đủ, chi tiết về cuộc hành trình đến đất Phật và khoảng thời gian gần 3
năm tìm hiểu, nghiên cứu về Phật pháp, văn hóa của xứ Phật. Bằng lời văn vừa
trí thức vừa bình dị, ông đã ghi lại từng chi tiết của từng địa phương mà ông đã
đi qua. Ngoài ra, cuốn du ký còn thể hiện một lòng quyết tâm và ý chí mãnh liệt
của thiền sư trong hành trình tới đất Phật.
Cuốn
“Nhật ký tham bái Ấn Độ, Tây Tạng” được viết bằng nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp,
Hoa và tiếng Việt, ghi lại hành trình qua đất Phật. Trong đó ghi chép khá chi
tiết, cụ thể và sinh động khoảng thời gian từ khi thiền sư Minh Tịnh xin giấy
phép xuất dương qua Ấn Độ và khoảng thời gian hơn 2 năm sinh sống trên đất Ấn rồi
trở về. Trải qua 15 ngày đêm đi tàu, vào ngày 31-4-1935, thiền sư Minh Tịnh tới
Ấn Độ. Điểm đặt chân đầu tiên của ông là cảng Madras, một khu phố khá sầm uất của
Ấn Độ thời bấy giờ.  |
Ảnh
vẽ Thiền sư Minh Tịnh |
Sau
khi rời Madras, thiền sư tới thành Ba La Nại (Béranés). Tại đây, ông ghé thăm vườn
Lộc Giã (Sarnath) xin tu tập tại đây 10 tháng. Sau đó, ông tới Boudhagaya (nơi đức
Phật thành đạo) để chiêm bái và suy nghiệm về sự tu chứng của đức Phật. Từ
Boudhagaya, ông tới Himalaya. Himalaya (Hy Mã Lạp Sơn), thuộc địa phận nước
Nêpan, là nơi thái tử Sĩ Đạt Ta (Đức Phật) ra đời. Vùng núi Himalaya vào mùa đông
là một vùng băng tuyết, ít người chịu được cái giá lạnh của vùng này. Bằng ý
chí và quyết tâm, thiền sư Minh Tịnh đã thành công khi đặt chân tới nơi Đức Phật
ra đời. Sau đó ông đến Lubini, nơi Đức Phật giáng sinh, đến cung Ca Tỳ La Vệ, nơi
hoàng cung trước kia của thái tử Sĩ Đạt Ta.
Trong
chuyến đi tới Nêpan, ông đã được chiêm bái 3 ngôi đại tháp thờ Xá Lợi Phật lớn
nhất ở Nêpan. Đó là: tháp Simb-Nath, tháp Boudha-Nath, tháp Nammo-Boudha. Hầu hết
Xá Lợi Phật đều được đưa về Himalaya để thờ. Trong cuộc chiến tranh Anh xâm lược
Ấn Độ, một số di tích Phật giáo đã bị tàn phá. Vì thế, để bảo tồn Xá Lợi, giới
lãnh đạo Phật giáo thời bay giờ quyết định đưa chúng qua Nêpan.
Khi
tới Nêpan, thiền sư Minh Tịnh đã sắm lễ vật và xin với vị thượng tọa Lama, người
cai quản tháp, xin được đảnh lễ Xá Lợi Phật. Ý nguyện của ông là muốn được thỉnh
Xá Lợi về Việt Nam. Sau nhiều lần đảnh lễ, cảm phục trước đức độ và lòng hiếu đạo
của thiền sư, vị thượng tọa quản tháp quyết định dâng cúng Xá Lợi Phật cho thiền
sư mang về Việt Nam. Thiền sư Minh Tịnh hết sức xúc động. Ông ghi lại trong nhật
ký của mình: “Xá Lợi có hào quang ngời chói, màu hồng bạch tốt tươi, dầu cho ngọc
dồi cũng không tày. Vật vô giá quý thay!...”. Vào những năm 1930-1940, ở miền Nam
Việt Nam, lần đầu tiên Xá Lợi Phật được thỉnh từ Tây Thiên do thiền sư Minh Tịnh
thỉnh về. Sau 12 ngày ở Nêpan, ông quyết định qua Tây Tạng. Cùng đi với ông có
vị Lama Gav Sandhen và 3 đồ đệ.
Ngày
27-2-1936, họ khởi hành. Ban đầu đi bằng tàu hỏa, rồi đi ngựa, đi bộ. Sau 3
tháng ròng rã, họ tới Lhasa, kinh đô của Tây Tạng. Đó là một chuyến đi đầy gian
nan, cực khổ. Mùa đông băng tuyết giá lạnh thấu xương. Mùa hè, nóng khô da cháy
thịt! Thật chẳng khác gì cảnh thầy trò Tam Tạng đi Tây Trúc thỉnh kinh trong
truyện Tây Du Ký! Đi tới đâu, ngài học cách sống và tìm hiểu phong tục của nơi đó.
Mỗi khi rảnh, ông học tiếng Tây Tạng...
Ở
Tây Tạng, quốc vương cũng là một vị Lama (Lạt ma). Tại đây, ông đến viếng quốc
tự của Tây Tạng. Đó là một ngôi chùa to lớn được làm toàn bằng vàng với hàng chục
nóc nhà uy nghi, tráng lệ. Sau đó, ông đến viếng quốc vương và dâng lễ vật theo
đúng tục lệ, nghi thức của Tây Tạng. Sau 3 lần dâng lễ vật, thiền sư được quốc
vương khen ngợi là bậc chân tu và có tinh thần cầu đạo.
Ngày
4-10-1936, ông xin quốc vương ban pháp danh cho mình. Quốc vương chấp thuận và
trao cho nhiếp chính vương ban đặt cho ông pháp danh Thubten - Osall Lama.
Thubten là tên của Lama Thái Thượng Hoàng, cha quốc vương. Thubten cũng có nghĩa
là viên kim cương. Osall có nghĩa là mặt trời, cũng là tên của quốc vương. Vì
thế, pháp danh Thubten- Osall Lama mang nhiều ý nghĩa. Thiền sư Minh Tịnh là một
trong những vị thiền sư hiếm hoi vinh dự đươc Quốc vương Nêpan ban đặt pháp
danh. Ngày 29-10-1936, ông trở về Ấn Độ, tiếp tục tìm hiều Phật giáo. Ngày
14-6-1937, ông khởi hành trở về Việt Nam, kết thúc cuộc hành trình đến đất Phật.
7 giờ sáng, ngày 30-6-1937, ông về tới quê hương Việt Nam.
Sau
khi từ Tây Tạng trở về, nghe danh thiền sư Minh Tịnh, ông Hương cả Trượng (ở
làng Phú Cường, nay thuộc thị xã Thủ Dầu Một, người tạo lập ngôi chùa Bửu Hương
Tự - tên cũ của chùa Tây Tạng tự) thỉnh thầy Minh Tịnh về trụ trì chùa này. Hòa
thượng Minh Tịnh cũng là người đã tạo lập dòng giáo phái Phật giáo Mật tông ở
Việt Nam. Chùa Tây Tạng là một ngôi chùa cổ có lối kiến trúc khá đặc biệt, chịu
nhiều ảnh hưởng của Phật giáo Mật Tông. Ngày 17-5-1951, thiền sư viên tịch.
So
với Đường Tăng của Trung Hoa, vị “tiểu Đường Tăng” của Việt Nam ít được biết tới
và có lẽ công trạng còn khiêm tốn, nhưng với ý chí và hành trình gian truân đó,
thiền sư cũng để lại niềm tự hào cho người Việt.
ĐỨC
THỌ